Xã hội Việt Nam phân hóa - Sử 9

Nguyễn Minh Khánh
tháng 2 01, 2024
Last Updated

 Chào các em, dựa theo SGK lịch sử lớp 9, chúng ta sẽ  học về quá trình xã hội Việt Nam phân hoá giai cấp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trước tiên, các em cần nắm rõ các nội dung quan trọng sau.

Bài giảng xã hội Việt Nam phân hóa

Xã hội Việt Nam phân hóa


Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, sự phân hoá giai cấp trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc:

  • Giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn: Trong xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn đã trở nên mạnh mẽ hơn và liên kết chặt chẽ với thực dân Pháp. Họ đã chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, bóc lột tài nguyên kinh tế và áp đặt sự kìm kẹp và đàn áp chính trị lên nông dân. Tuy nhiên, một phần của tầng lớp này, đặc biệt là địa chủ vừa và nhỏ, có lòng yêu nước và đã tham gia vào các phong trào yêu nước trong những điều kiện thuận lợi.

Ví dụ: Một địa chủ nhỏ có lòng yêu nước có thể tham gia vào các phong trào đấu tranh chống lại thực dân Pháp và quyền lợi dân tộc.

  • Giai cấp tư sản: Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tầng lớp tư sản ở Việt Nam đã phân hoá thành hai nhóm. Ban đầu, phần lớn tư sản là những tiểu chủ đứng trung gian, làm thầu khoán hoặc cung cấp nguyên vật liệu và hàng hóa cho tư bản Pháp. Khi họ tích luỹ được vốn đủ, họ đã bước vào kinh doanh riêng và trở thành những nhà tư sản như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thú, và nhiều người khác.

Ví dụ: Bạch Thái Bưởi là một nhà tư sản nổi tiếng trong xã hội Việt Nam, đã thành công trong lĩnh vực kinh doanh và góp phần vào phát triển kinh tế của đất nước.

  • Tầng lớp tiểu tư sản thành thị: Do sự phát triển của các ngành kinh tế, đặc biệt là các cơ quan hành chính, văn hoá và giáo dục, tầng lớp tiểu tư sản thành thị đã tăng nhanh về số lượng. Tuy nhiên, họ cũng bị tư bản Pháp áp đặt, bạc đầu, khinh rẻ, và đối mặt với tình trạng kinh tế không ổn định, dễ bị đẩy vào con đường phá sản và thất nghiệp. Các bộ phận trí thức, sinh viên và học sinh có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng văn hoá tiến bộ từ bên ngoài, do đó có tinh thần cách mạng và đóng góp vào quá trình cách mạng dân tộc dân chủ.

Ví dụ: Tầng lớp trí thức đã được tiếp xúc với những ý tưởng cách mạng và tiến bộ từ các trào lưu văn hoá nước ngoài. Khi về nước, họ thúc đẩy phong trào cách mạng trong nước như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu phát động.

  • Giai cấp nông dân: Chiếm trên 90% dân số, họ bị thực dân, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Họ là lực lượng hãng hải và đông đảo nhất của cách mạng.

Giai cấp công nhân: Ra đời trước chiến tranh, phát triển nhanh trong thời kì khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp. Họ bị ba tầng áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến, tư sản người Việt và có quan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân. Giai cấp công nhân Việt Nam nhanh chóng vươn lên nắm quyền lãnh đạo cách mạng nước ta.

Câu hỏi và bài tập

Xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã phân hoá như thế nào?

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, xã hội Việt Nam đã trải qua sự phân hoá giai cấp sâu sắc

Giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn: Giai cấp này đã ngày càng câu kết chặt chẽ với thực dân Pháp. Họ chia nhau chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và tăng cường bóc lột kinh tế, đàn áp chính trị đối với nông dân. Một số địa chủ có tinh thần yêu nước đã tham gia vào các phong trào yêu nước khi có điều kiện.

Giai cấp tư sản: Tầng lớp tư sản đã đông đảo hơn và phân hoá thành hai bộ phận. Phần đông ban đầu là những tiểu chủ đứng trung gian làm thầu khoán, cung cấp nguyên vật liệu hoặc đại lý hàng hóa cho tư bản Pháp. Khi kiếm được số vốn khá, họ đứng ra kinh doanh riêng và trở thành những nhà tư sản. Tuy nhiên, tư sản Việt Nam phân hoá thành hai nhóm: tầng lớp tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc và tầng lớp tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập và tinh thần dân tộc dân chủ.

Tiểu tư sản thành thị: Với sự phát triển của các ngành kinh tế, tầng lớp tiểu tư sản thành thị tăng nhanh về số lượng. Tuy nhiên, họ cũng bị tư bản Pháp áp bức, khinh rẻ và đời sống của họ bấp bênh. Một số trí thức, sinh viên và học sinh cũng thuộc tầng lớp này, và nhờ tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng tiến bộ, họ có tinh thần cách mạng và là lực lượng trong quá trình cách mạng dân tộc.

Nông dân: Giai cấp nông dân chiếm phần lớn dân số, và họ bị thực dân, phong kiến áp bức và bóc lột nặng nề thông qua các biện pháp như sưu cao, thuế nặng, tô tức, phu phen, tạp dịch và cướp đoạt ruộng đất. Nông dân bị bần cùng và phá sản ở quy mô lớn. Tuy nhiên, họ là lực lượng hãng hải và đông đảo nhất của cách mạng.

Công nhân: Giai cấp công nhân ra đời trước chiến tranh và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp. Giai cấp công nhân chịu ba tầng áp bức bóc lột từ Pháp, tư sản theo Pháp, phong kiến. Từ đó, giai cấp công nhân đã nhanh chóng vươn lên nắm quyền lãnh đạo cách mạng

Em hãy cho biết thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh

Giai cấp địa chủ phong kiến thường có thái độ chính trị bảo thủ, ủng hộ hệ thống phong kiến, bảo vệ lợi ích cá nhân và đặt quyền lợi của mình trên hàng đầu. Thế nhưng, trong số họ, có một số địa chủ có tinh thần yêu nước, tham gia vào các phong trào yêu nước nhằm bảo vệ quyền lợi của dân tộc.

Giai cấp tư sản: Giai cấp tư sản thường có định hướng thu lợi cá nhân và thích ứng với hệ thống tư bản. Tuy nhiên, trong số tư sản Việt Nam, có những tầng lớp tư sản dân tộc có tinh thần độc lập, dân tộc và cách mạng. Họ sẵn lòng hỗ trợ các hoạt động cách mạng nhằm thúc đẩy sự phát triển và độc lập của Việt Nam.

Tiểu tư sản thành thị thường có tinh thần cách mạng cao và ủng hộ các hoạt động cải cách xã hội. Với tư tưởng tiến bộ và tiếp xúc với các trào lưu cách mạng, họ có thể trở thành lực lượng quan trọng trong việc chống lại áp bức của thực dân và giai cấp thống trị.

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Thông qua cuộc sống bần hàn và bị bóc lột mạnh mẽ, nông dân thường có tinh thần cách mạng cao và sẵn lòng tham gia các hoạt động chống lại áp bức và bóc lột. Họ là lực lượng chủ chốt trong cách mạng Việt Nam.

Giai cấp công nhân cũng có khả năng cách mạng cao và thường đặt lợi ích của giai cấp và tầng lớp lao động lên hàng đầu. Công nhân tụ tập trong các nhà máy và xưởng sản xuất, có thể tổ chức, tham gia vào các hoạt động đấu tranh cách mạng để bảo vệ quyền lợi của mình.

Như vậy, chúng ta vừa tìm hiểu xong bài học xã hội Việt Nam phân hóa sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Chúc các em học tốt và hẹn gặp lại các em trong các bài học tiếp theo.

TrendingTrang chủ